Thông điệp của Hiệu trưởng

Thông Điệp
Các em học sinh thân mến!

Mỗi chúng ta trưởng thành đều nhờ vào tri thức, tri thức ấy được ghi chép lại trong những trang sách qua những kinh nghiệm trong cuộc sống từ đời này sang đời khác. Vì vậy, sách là sự kết tinh trí tuệ của con người, là kho tàng tri thức phong phú, bổ ích và vô cùng quý giá đối với loài người.

Đọc sách giúp chúng ta mở ra cách cửa tri thức của nhân gian, làm phong phú hơn cho đời sống tinh thần của mỗi người.

Đọc sách là một trong những niềm vui của cuộc sống bởi sách chứa đựng rất nhiều điều kỳ diệu và hấp dẫn mà chỉ những ai hay đọc sách mới cảm nhận được. Sách không chỉ là nơi cung cấp cho con người nguồn tri thức bất tận từ cuộc sống mà nó còn chứa đựng những cung bậc cảm xúc, những thông điệp mà người viết muốn mang đến cho bạn đọc.

Sách mang đến vô vàn điều mới lạ, giúp thay đổi suy nghĩ của con người trở nên tích cực hơn, có động lực hơn trong cuộc sống. Các em hãy rèn luyện cho mình thói quen đọc sách và cảm nhận những thông điệp mà chúng mang lại trong cuộc sống nhé!

Thầy Cô mong rằng, các em sẽ luôn giữ trong mình niềm đam mê đọc sách, để mỗi cuốn sách trở thành người bạn đồng hành, giúp các em phát triển toàn diện và trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Tại Trang Thư viện điện tử của nhà trường các em có thể đọc sách, tra cứu, tìm kiếm thông tin, khám phá nguồn tài nguyên học tập rất đa dạng phong phú ở tất cả các bộ môn.

Ngoài ra nguồn tài liệu học tập các em có thể tìm hiểu các tin tức, sự kiện chính trị, giáo dục cũng như tra cứu các thông tin về văn bằng chứng chỉ, thông tin về các kỳ thi Tuyển sinh, thi Tốt nghiệp THPT, thi Học sinh giỏi…

Chúc các em tìm hiểu, nghiên cứu được nhiều kiến thức giá trị cũng như có những trải nghiệm thú vị khi khám phá Trang Thư viện điện tử của nhà trường

Học liệu điện tử

Ảnh ngẫu nhiên

Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png

LỜI CHÚC HÔM NAY

Lời chúc hôm nay

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Bình thường
    Đẹp
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Học tập và làm theo Bác Hồ

    CHUYÊN ĐÊ 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương (trang riêng)
    Ngày gửi: 22h:08' 27-11-2023
    Dung lượng: 47.6 MB
    Số lượt tải: 393
    Số lượt thích: 0 người
    CHUYÊN ĐỀ 1
    LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TRUYỀN
    THỐNG VIỆT NAM

    MỤC LỤC

    01

    NGHỆ THUẬT THỜI LÍ

    04

    NGHỆ THUẬT THỜI MẠC

    02

    NGHỆ THUẬT THỜI
    TRẦN

    05

    NGHỆ THUẬT THỜI LÊ
    TRUNG HƯNG

    03

    NGHỆ THUẬT THỜI LÊ


    06

    NGHỆ THUẬT THỜI
    NGUYỄN

    1. Nghệ thuật thời
    a. Kiến Lý

    • Kiến
    trúc: trúc cung
    Nămđình
    1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình)ra Đại La và đổi tên
    thành Thăng Long (Hà Nội). Từ đây, Kinh thành Thăng Long phát triển
    nhanh chóng trên quy mô lớn và xây dựng gồm nhiều cung điện tiêu
    biểu nhất là điện Càn Nguyên.

    • Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng
    dân gian

    Thời Lý, hệ thống chùa, tháp được xây dựng ở nhiều nơi trong đó có
    nhiều công trình quy mô lớn. Bên cạnh đó là hệ thống đền, miếu thờ
    phụng thần linh... Các công trình chùa, tháp, đền, miếu được xây dựng
    hài hòa với cảnh quan xung quanh.

    Nghệ thuật đúc đồng thời Lý rất phát triển.
    Trong bốn tác phẩm bằng đồng nổi tiếng được
    xem là '' An Nam tứ đại khí''thì có ba tác phẩm
    được tạo ra vào thời Lý là đỉnh tháp Báo Thiên,
    chuông Quy Điền, tượng Phật Di Lặc chùa
    Quỳnh
    Lâm.
    Thành tựu kiến trúc và điêu khắc thời Lý là sự
    kết hợp giữa các yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã
    hội với tôn giáo đương thời; là sự kế thừa nghệ
    thuật truyền thống của người Việt và sự tiếp thu
    những yếu tố văn hóa bên ngoài.

    Tháp Báo Thiên (Hà
    Nội)

    b) Điêu
    khắc:

    Thời Lý, nghệ thuật điêu
    khắc phát triển khá phong
    phú tiêu biểu là tượng rồng
    bằng đá, đồng, gỗ...
    Hình tượng rồng thời Lý chịu
    ảnh hưởng của Phật giáo
    với đặc điểm nổi bật là thân
    hình tròn, da trơn, nhỏ dần
    về phần đuôi. Thân rồng
    thường có từ 11 đến 13
    khúc ,uốn lượn mềm mại,
    thanh thoát, nhẹ nhàng, có
    tư thế như đang bay.

    Hình tượng rồng thời


    2. Nghệ thuật thời Trần

    a) Kiến trúc:

    . Kiến trúc cung
    Thời Trần,
    đìnhngoài hệ thống cung

    điện tại Kinh thành Thăng Long
    còn có các cung điện ở Tức Mặc
    (Nam Định).
    Năm 1237, vua Trần Thái Tông cho dời điện
    Linh Quang về bến Đông Bộ Đầu và đổi tên
    thành điện Phong Thủy. Năm 1253, vua Trần
    Thái Tông cho xây dựng Giảng Võ. Năm
    1262, Thượng hoàng Trần Thái Tông đổi
    hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, xây
    dựng cung Trùng Quang. Hành cung Thiên
    Trường với hệ thống kiến trúc nguy nga có
    giá trị đặc biệt trong số các trung tâm chính
    trị, văn hóa Đại Việt thời Trần.

    Tháp Phổ Minh

    . Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân
    gian

    Thời Trần, nhiều đền, chùa,
    lăng mộ... tiếp tục được
    xây dựng. Tiêu biểu là đền
    An Sinh và lăng mộ các
    vua Trần (Quảng Ninh),
    chùa Bối Khê (Hà Nội).

    Chùa Bối Khê (Hà
    Nội))

    b) Điêu
    Điêu
    khắc thời Trần khá
    khắc:

    phát triển, biểu hiện qua
    hình tượng rồng và
    những tác phẩm chạm
    khắc trên đá, đồng, gỗ.
    Bên cạnh đó, còn có một
    số phù điêu khắc hình
    nhạc công biểu diễn
    mang phong cách ChămHình tượng pa.
    rồng thời Trần có thân

    hình mập mạp, uốn khúc mạnh mẽ
    hơn rồng thời Lý.
    Nghệ thuật điêu khắc thời Trần là
    sự tiếp nối của thời Lý nhưng cách
    tạo hình khỏe khoăn hơn, thể hiện
    rõ tinh thần thượng võ cùng dấu
    ấn vương quyền.

    Hình tượng rồng thời

    NGHỆ THUẬT THỜI MẠC

    a. Kiến trúc
    K I ẾN TR Ú C
    Tại Thăng
    CUNG ĐÌNH

    Lo n g , n h à M ạ c t i ế p
    quản gần như toàn bộ các công
    t r ì n h c u n g đ i ệ n c ủ a n h à Lê S ơ đ ể
    lại, không xây dựng thêm và cũng
    ít tu bổ. Các vua nhà Mạc xây
    dựng nhiều cung điện ở Dương
    Kinh (thuộc Hải Phòng ngày nay).

    Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

    Hình ảnh Chùa Trăm gian
    (Hà Nội)
    Hình ảnh Đình Tây Đằng (Hà
    Nội)

    Trong tổng số 195 công trình thời Mạc còn lại đến thời nay, có 142
    công trình kiến trúc là chùa, chủ yếu là tôn tạo. Tiêu biểu có chùa
    Bà Tấm (Hà Nội), chùa Cập Nhất ở Thanh Hà (Hải Dương), chùa Bối
    Khê ở Thanh Oai (Hà Nội),..
    Dưới thời Mạc, đình làng trở nên phổ biến. Đình làng là nơi sinh hoạt
    chung của cộng đồng làng xã. Hai ngôi đền nổi tiếng nhất là đình Lỗ
    Hạnh (Bắc Giang) xây dựng năm 1576 và đình Tây Bằng (Hà Nội) xây
    dựng năm 1583.
    Với chính sách tôn giáo và tín ngưỡng khá cởi mở của triều đình, các
    đạo quán có điều kiện sửa sang, tu bổ. Ba đạo quán có dấu tích từ thời
    Mạc còn đến nay là quán Hưng Thánh, quán Hội Linh và quán Linh
    Tiên (Hà Nội). Ngoài ra còn có một số công trình đạo quán khác được
    trùng tu thời kì này như quán Thụy Ứng, quán Đế Thích,...

    b. Điêu khắc
    • Nghệ thuật điêu khắc thời Mạc thể
    h i ệ n rõ n é t q u a v i ệ c t ạ c t ư ợ n g ( t i ê u
    biểu là tượng Phật), hình tượng
    rồng..Hoạt động tạc tượng thời Mạc
    khá phát triển với chất liệu và loại
    hình khá phong phú, tiêu biểu là các
    ư ợ n g đ ư ợ c t ạc b ằ n g g ỗ m í t v à g ỗ
    • tCác
    chủ đề phổ biến của điêu khắc là cảnh
    v à n g t â m.
    sinh hoạt của nhân dân, khắc hình thiên
    nhiên như thú vật, hoa lá, sông nước, mây

    hình
    tượng
    rồng,
    phượng.
    • trời
    Nghệ thuật thời Mạc chịu ảnh hưởng mạnh
    mẽ của nghệ thuật thời Lý, Trần và một số
    đặc điểm kế thừa thời Lê Sơ. Phong cách
    chung là thể hiện xu hướng tả thực, gần gũi
    với cuộc sống đời thường.

    Tượng Quan âm nghìn mắt
    nghìn tay tại chùa Đa Tốn
    (Gia Lâm, Hà Nội) được tạc ở
    tư thế ngồi xếp bằng; cao
    1,32m; tính cả bệ cao 2,55m.
    Những cánh tay tạo thành
    vòng sáng rộng 1,55m. Tượng
    ngồi trong thế "tham thiền
    nhập định" nhưng lại toát ra
    cái "động" của nội tâm qua
    những cánh tay chính hướng
    ra xung quanh với nhiều động
    tác khác nhau.

    Nghệ thuật thờii Lê Trung
    Hưng

    a. Kiến trúc:
    * Kiến trúc cung đình:
    • Sau khi giành lại kinh thành Thăng long từ nhà
    Mạc(1592), các chứ Trịnh bắt đầu cho xây dựng
    vương phủ ở phía Nam hồ Tả Vọng. Cùng với hệ
    thống cung điện của vua Lê, phủ chúa Trịnh dần trở
    thành một quần thể kiến trúc đồ sộ gồm 52 cung,
    phủ, điện, đài, vườn ngự uyển,...
    • Các chúa Trịnh còn cho xây dựng nhiều cung điện ở
    bên ngoài phủ. Quanh phủ Chúa là tường thành bao
    bọc và cổng thành kiên cố. Phía trên các cổng
    thành đều có vọng gác, lợp mái cho quân lính đứng
    canh gác
    • Ở Đàng Trong, chính quyền chúa Nguyễn cũng từng
    bước cho xây dưng kinh thành ở Phú Xuân . Trong

    *Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian:
    • Kiến trúc tôn giáo có bước phát triển mạnh với
    sự hồi của Phật giáo. Ở Đàng Ngoài, nhiều chùa
    tháp được xây dựng hoặc trùng tu, mở rộng hơn
    trước như: chùa Keo(Thái Bình); chùa Bút
    Tháp( Bắc Ninh);...
    • Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn rất sùng đạo
    Phật đã ủng hộ và xây dựng nhiều ngôi chùa mới
    như chùa: Thiên Mụ; Từ Đàm; Báo Quốc;...
    • Kiến trúc chùa mới và chùa được trùng tu có kiểu
    dáng đa dạng . Địa điểm xây dựng thường là
    những nơi yên tĩnh, phong cảnh đẹp gần núi,
    sông.
    • Có nhiều loại hình tiêu biểu là đình làng tiêu
    biểu như: Đình Bảng ( Bắc Ninh) ; Chu Quyến(Hà

    b. Điêu khắc :

    • Điêu khắc cung đình gắn với quá trình xây
    dựng và điêu khắc cung vua, phủ chúa, xây
    dựng lăng mộ ,... Năm 1644, chúa Trịnh
    Doanh cho xây lầu Ngũ Long . Khi các vua
    chúa qua đời, chính quyền Đàng Trong,
    Đàng Ngoài đều quan tâm đến việc xây
    dựng lăng mộ, dựng bia đá, khắc tượng rùa
    đá,... Tuy nhiên hình tượng rông trong thời
    kỳ này mờ nhạt, ít được sử dụng.
    • Điêu khắc dân gian phát triển đa dạng hơn
    so với điêu khắc cung đình. Phổ biến nhất
    vẫn là những bức chạm khắc trên gỗ , cột
    đá ở các đình làng, tạc tượng,... như :
    tượng Phật bà Quan âm nghìn mắt nghìn
    tay( Bắc Ninh), tượng La Hán ở chùa Tây

    c.Mĩ thuật:
    Mĩ thuật thời Lê Trung Hưng phát triển rực rỡ với nhiều thể
    loại.
    • Tranh lụa thời Lê Trung Hưng có nhiều chủ đề như
    phong cảnh tranh trang trí đồ vật hoặc vẽ chân dung.
    • Tranh dân gian xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII , phát
    triển mạnh trong thời kỳ tù thế kỷ XVIII- XIX với bốn
    dòng chính là tranh Đông Hồ , Hàng Trống , Kim Hoàn
    phục vụ người dân vào các dịp Tết hay còn được gọi là
    tranh Tết

    Mĩ thuật ở Đàng Trong nổi bật với
    nghệ thuật trang trí tạo hoa văn nổi
    bằng việc đắp vữa gắn sành , sứ ở
    các ngôi chùa, phối hợp nhiều màu

    d. Điểm mới:
    • Sự mở rộng của kiến trúc cung đình
    • Kiến trúc tôn giáo và dân gian phát
    triển rực rỡ, độc đáo , sáng tạo
    • Mĩ thuật xuất hiện yếu tố mới và trở
    nên đa dạng
    • Nghệ thuật có sự kế thừa và giao thoa
    mạnh mẽ

    Nghệ thuật thời Lê Sơ

    1. Kiến
    • trúc
    Kiến trúc cung đình
    Kinh thành Thăng Long và hệ thống cung điện
    được trùng tu, xây mới trên quy mô lớn. Khu
    Văn Miếu, nhà Thái học và công đường của
    triều đình cũng được mở rộng

    • Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian:
    Việc xây chùa mới bị hạn chế thay vào đó là nhiều
    chùa được trùng tu (chùa Kim Liên, chùa Đại Bi..)
    Lăng mộ thời Lê Sơ là công trình nghệ thuật đặc
    sắc. Điển hình là lăng mộ vua Lê Thái Tổ

    2. Điêu khắc
    • Điêu khắc thời Lê Sơ phát triển thể hiện qua hình tượng
    rồng, tượng quan hầu, bia tiến sĩ ở Văn Miêu-Quốc Tử Giám.
    Những đường nét mềm mại, cân đối của hình tượng rồng
    thời Lý, Trần được thay bằng những đường nét sắc nhọn,
    mạnh mẽ
    • Chạm khắc gỗ ở các đình làng miêu tả cảnh sinh hoạt của
    nhân dân, các dòng tranh khắc gỗ như Đông Hồ, Hàng Trống
    ra đời vào thời kì này tạo ra bức tranh dân gian đặc sắc, trờ
    thành tài sản quý báu trong kho tàng nghệ thuật
    • Nghệ thuật Lê Sơ kế thừa những tinh hoa của nghệ thuật Lý,
    Trần đòng thời có những bước tiến mới về cả nội dung và
    hình thức thể hiện

    2.Nghệ thuật thời Nguyễn

    a) Kiến trúc
    • Kiến trúc cung đình
    Kinh thành Huế được xây dựng trong 30 năm (1803 – 1832), có chu vi 10
    km, có
    diện tích là 520 ha, tạo thành một quần thể kiến trúc độc đáo và đa dạng.
    Kinh thành Huế gồm ba lớp thành: Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm
    thành. Hoàng thành và Tử cấm thành thường được gọi là Đại Nội.

    *Ngọ Môn là cổng ra vào của
    Đại Nội Kinh thành Huế, nhìn
    ra sông Hương. Cổng Ngọ Môn
    có 5 cửa: cửa giữa dành cho
    nhà vua, hai cửa ở hai bên
    dành cho quan văn và quan
    võ, hai cửa còn lại dành cho
    binh lính đi theo.
    Hình 32.Ngọ Môn-cử chính phía Nam
    của
    Hoàng thành Huế

    -Trung tâm của Kinh thành Huế là khu Đại Nội với gần 140 công trình lớn
    nhỏ.Mỗi công trình có chức năng riêng biệt, được xây dựng và trang trí rất
    độc đáo,tiêu biểu là Ngọ Môn, điện Thái Hoà, sân Đại Triều, cung Diên Thọ,
    Thái Miếu,Thế Miếu, Triệu Miếu,... Ở ngoại ô Kinh thành Huế còn có lăng
    tẩm của các vua Nguyễn, mỗi lăng tẩm là một công trình nghệ thuật với
    phong cách riêng.Ngoài Kinh thành Huế, nhà Nguyễn còn cho xây dựng
    nhiều thành trì quân sự vững chắc ở Hà Nội, Cao Bằng, Sơn Tây, Quảng Trị,
    Bình Định, Vĩnh Long, Gia Định,...

    Thành Cửa Bắc (Hà Nội) hoàn
    thành xây dựng năm 1805 trên
    nền Cửa Bắc thời Lê trung hưng.
    Thành được xây bằng gạch, đá
    theo kiến trúc vọng lâu (phía trên
    là lầu, phía dưới là thành). Trên
    thành có vọng gác của quân lính.
    Tưởng thành vẫn còn dấu vết đạn
    pháo do quân Pháp bắn trong lần
    đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ
    hai(1882). Đây là một trong số ít
    di tích lịch sử còn sót lại của thành

    -Nhà Nguyễn đề cao Nho giáo, không còn tôn sùng Phật giáo như thời
    các chúa Nguyễn.Có giai đoạn vua Gia Long và vua Tự Đức cấm nhân
    dân không được xây dựng chùa mới.
    -Tuy vậy, chùa, tháp vẫn được trùng tu hoặc xây dựng mới ở nhiều nơi,
    tiêu biểu là chùa Dâu, chùa Phật Tích (Bắc Ninh); chùa Keo (Thái
    Bình),... Việc xây dựng mới hoặc tu sửa đình làng tiếp tục được duy trì.
    Ở Nam Bộ, việc xây dựng đình làng trở nên phổ biến hơn. Những đình
    làng tiêu biểu xuất hiện ở thời Nguyễn là đình thần Hưng Long (Bình
    Phước); đình Mỹ Đức (Kiên Giang); đình Thới An, đình Thạnh Hoà,...
    Nhìn chung, kiến trúc thời Nguyễn có sự kế thừa truyền thống của các
    thời kì trước đó, đồng thời tiếp thu những nét đặc sắc kiến trúc của
    Trung Hoa và vận dụng hiệu quả kiểu kiến trúc xây thành quân sự
    phòng ngự Vau-ban của Pháp.

    b,Điêu khắc

    -Khảm sành sứ đã tạo nên nét đặc
    sắc của điêu khắc cung đình Huế,
    tiêu biểu nhất là lăng Khải Định.
    Ngoài yếu tố mới lạ và độcđảo đến từ
    sự giao thoa văn hoá, kiến trúc Đông
    – Tây, giá trị lớn nhất đưa lăng Khải
    Định đạt đến tầm kiệt tác nghệ thuật
    chính là nghệ thuật khảm sành sứ
    trong nội điện. Các nghệ nhân xứ
    Huế đã dùng hàng vạn mầu sành,
    sứ,thuỷ tinh với đủ màu sắc để đắp
    nổi thànhhàng nghìn bức tranh, phù
    điêu, hình chim,hoa, muông thú,…

    b,Điêu khắc
    -Nét đặc sắc về nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn còn thể hiện ở
    việc chạm khắc trên bia đá, tạc tượng (người hoặc con vật), chạm trổ
    trên gỗ, tạo hoa văn trang trí trên đồng,... Trong đó, hình tượng “tứ
    linh” (long, ly, quy, phượng) là phổ biến hơn cả. Hình tượng rỗng và
    phượng có mặt ở mọi công trình kiến trúc trong Kinh thành Huế, các
    lăng tẩm và được thể hiện trên nhiều chất liệu khác nhau như vàng,
    sành, sứ, gỗ, đá,...
    -Nghệ thuật điêu khắc tại các ngôi chùa và đình làng thời Nguyễn về
    cơ bản vẫn tiếp nối phong cách thời Lê trung hưng, gồm có chạm trổ
    trên gỗ, đá hoặc đúc chuông, đúc tượng Phật,... Ở phía nam, nhiều
    ngôi chùa, đình tại các làng xã hoặc nhà ở và lăng mộ của một số

    b,Điêu khắc

    Cuối năm 1835, vua Minh Mạng cho
    khởi công đúc Cửu Đỉnh và hoàn thành
    một năm sau đỏ. Cửu Đỉnh được đặt
    trước sân Thể Tổ Miếu và ở nguyên vị
    trí từ đó đến nay. Cả 9 chiếc đỉnh đều
    có kiểu dáng chung, giống nhau (bầu
    tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có
    hai quai, dưới bầu có ba chân,...). Năm
    2012, Cửu Đỉnh được công nhận là Bảo
    vật Quốc gia.

    c,Mĩ thuật

    -Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Kinh thành Huế, việc
    trang trí nội thất cung đình được các vua triều Nguyễn rất chú
    -Mĩ
    thuật dân gian tiếp tục phát triển với nhiều loại hình, sử dụng
    trọng.
    nhiều
    chất liệu khác nhau.Mỗi dòng tranh dân gian có nghệ thuật tạo
    màu sắc và cách in ấn khác nhau, nhưng đều gắn với chủ đề lịch
    sử như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung,... hoặc phản
    ánh cuộc sống thường ngày như đánh vật, chăn trâu thổi sáo,
    phong cảnh làng quê,...

    c,Mĩ thuật

    Tranh làng Sình ra đời vào
    khoảng thế kỉ XVI ở thôn Lại Ân,
    xã Phú Mậu, thành phố Huế.
    Đây là dòng tranh vẽ ra không
    chỉ phục vụ thú chơi tranh tao
    nhã mà còn đáp ứng nhu cầu tín
    ngưỡng, được người dân Huế
    dùng để thờ, hoá trong lễ cầu
    an, giải hạn,...Tranh làng Sình
    làm nên nét riêng biệt và đặc
    sắc cho vùng đất miền Trung.

    d,Âm nhạc
    *Âm nhạc cung đình:
    -Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, nhạc cung đình xuất hiện từ rất sớm,
    được ưu giữ và phát triển qua nhiều triều đại, nhưng đặc sắc và có quy
    mô nhất là ở thời Nguyễn. Năm 1808, vua Gia Long đổi tên dàn nhạc
    cung đình là “Việt Nam quốc nhạc”.
    * Âm nhạc dân gian
    -Âm nhạc dân gian phát triển trên khắp các tỉnh thành trong cả nước,
    phong phú về loại hình, đồng thời mang đặc trưng vùng, miền như nghệ
    thuật sân khấu cải lương,tuồng, hát chèo, hát quan họ, hát trống cơm,
    hát ví, giặm, hát xẩm,...

    e,Những điểm mới về nghệ thật thời
    Nguyễn
    -Kiến trúc thời Nguyễn, đặc biệt là kiến trúc cung đình Huế có quy mô
    lớn, kiên cố nhất trong các triều đại quân chủ Việt Nam. Trải qua hàng
    thế kỉ chịu sự tác động của
    thời tiết khắc nghiệt, nhiều công trình kiến trúc của Kinh thành Huế và
    thành quân sự
    ở các địa phương vẫn đứng vững, được lưu giữ gần như nguyên vẹn.
    -Nghệ
    thuật
    thời Nguyễn
    có sựmột
    kếtsố
    hợp
    văn
    hoá
    Đông
    – Tây,
    đặc
    -Dưới thời
    Nguyễn,
    xuất hiện
    loại
    hình
    nghệ
    thuật
    mới
    vàbiệt
    đặclà
    văn
    sắc, hoá
    độc Việt –Pháp. Các công trình kiến trúc (Kinh thành Huế, lăng
    tẩm,
    thành
    quân
    sự ở thuật
    các địa
    phương)
    kết
    hợpcung
    văn hoá
    đáo, đặc
    biệt
    là nghệ
    khảm
    sành,đều
    sứ có
    và sự
    Nhã
    nhạc
    đìnhĐông
    –Huế.
    Tây, vừa phát huy được những thành tựu của các thời kì trước, vừa
    vận dụng được hiệu quả của kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc thành
    quân sự phỏng ngự Vau-ban của Pháp,...

    e,Những điểm mới về nghệ thật thời
    Nguyễn

    -Cuối năm 1835, vua Minh Mạng
    cho khởi công đúc Cửu Đỉnh và
    hoàn thành một năm sau đỏ. Cửu
    Đỉnh được đặt trước sân Thể Tổ
    Miếu và ở nguyên vị trí từ đó đến
    nay. Cả 9 chiếc đỉnh đều có kiểu
    dáng chung, giống nhau (bầu tròn,
    cổ thắt, miệng loe, trên miệng có
    hai quai, dưới bầu có ba chân,...).
    Năm 2012, Cửu Đỉnh được công
    nhận là Bảo vật Quốc gia.

    THANK
    YOU
    B Y O L I V IA W IL S O N
     
    Gửi ý kiến

    THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ SÁCH XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

    Phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia