(
Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương (
trang riêng)
Ngày gửi: 22h:08' 27-11-2023
Dung lượng: 47.6 MB
Số lượt tải: 393
Số lượt thích:
0 người
CHUYÊN ĐỀ 1
LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TRUYỀN
THỐNG VIỆT NAM
MỤC LỤC
01
NGHỆ THUẬT THỜI LÍ
04
NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
02
NGHỆ THUẬT THỜI
TRẦN
05
NGHỆ THUẬT THỜI LÊ
TRUNG HƯNG
03
NGHỆ THUẬT THỜI LÊ
SƠ
06
NGHỆ THUẬT THỜI
NGUYỄN
1. Nghệ thuật thời
a. Kiến Lý
• Kiến
trúc: trúc cung
Nămđình
1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình)ra Đại La và đổi tên
thành Thăng Long (Hà Nội). Từ đây, Kinh thành Thăng Long phát triển
nhanh chóng trên quy mô lớn và xây dựng gồm nhiều cung điện tiêu
biểu nhất là điện Càn Nguyên.
• Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng
dân gian
Thời Lý, hệ thống chùa, tháp được xây dựng ở nhiều nơi trong đó có
nhiều công trình quy mô lớn. Bên cạnh đó là hệ thống đền, miếu thờ
phụng thần linh... Các công trình chùa, tháp, đền, miếu được xây dựng
hài hòa với cảnh quan xung quanh.
Nghệ thuật đúc đồng thời Lý rất phát triển.
Trong bốn tác phẩm bằng đồng nổi tiếng được
xem là '' An Nam tứ đại khí''thì có ba tác phẩm
được tạo ra vào thời Lý là đỉnh tháp Báo Thiên,
chuông Quy Điền, tượng Phật Di Lặc chùa
Quỳnh
Lâm.
Thành tựu kiến trúc và điêu khắc thời Lý là sự
kết hợp giữa các yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã
hội với tôn giáo đương thời; là sự kế thừa nghệ
thuật truyền thống của người Việt và sự tiếp thu
những yếu tố văn hóa bên ngoài.
Tháp Báo Thiên (Hà
Nội)
b) Điêu
khắc:
Thời Lý, nghệ thuật điêu
khắc phát triển khá phong
phú tiêu biểu là tượng rồng
bằng đá, đồng, gỗ...
Hình tượng rồng thời Lý chịu
ảnh hưởng của Phật giáo
với đặc điểm nổi bật là thân
hình tròn, da trơn, nhỏ dần
về phần đuôi. Thân rồng
thường có từ 11 đến 13
khúc ,uốn lượn mềm mại,
thanh thoát, nhẹ nhàng, có
tư thế như đang bay.
Hình tượng rồng thời
Lý
2. Nghệ thuật thời Trần
a) Kiến trúc:
. Kiến trúc cung
Thời Trần,
đìnhngoài hệ thống cung
điện tại Kinh thành Thăng Long
còn có các cung điện ở Tức Mặc
(Nam Định).
Năm 1237, vua Trần Thái Tông cho dời điện
Linh Quang về bến Đông Bộ Đầu và đổi tên
thành điện Phong Thủy. Năm 1253, vua Trần
Thái Tông cho xây dựng Giảng Võ. Năm
1262, Thượng hoàng Trần Thái Tông đổi
hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, xây
dựng cung Trùng Quang. Hành cung Thiên
Trường với hệ thống kiến trúc nguy nga có
giá trị đặc biệt trong số các trung tâm chính
trị, văn hóa Đại Việt thời Trần.
Tháp Phổ Minh
. Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân
gian
Thời Trần, nhiều đền, chùa,
lăng mộ... tiếp tục được
xây dựng. Tiêu biểu là đền
An Sinh và lăng mộ các
vua Trần (Quảng Ninh),
chùa Bối Khê (Hà Nội).
Chùa Bối Khê (Hà
Nội))
b) Điêu
Điêu
khắc thời Trần khá
khắc:
phát triển, biểu hiện qua
hình tượng rồng và
những tác phẩm chạm
khắc trên đá, đồng, gỗ.
Bên cạnh đó, còn có một
số phù điêu khắc hình
nhạc công biểu diễn
mang phong cách ChămHình tượng pa.
rồng thời Trần có thân
hình mập mạp, uốn khúc mạnh mẽ
hơn rồng thời Lý.
Nghệ thuật điêu khắc thời Trần là
sự tiếp nối của thời Lý nhưng cách
tạo hình khỏe khoăn hơn, thể hiện
rõ tinh thần thượng võ cùng dấu
ấn vương quyền.
Hình tượng rồng thời
NGHỆ THUẬT THỜI MẠC
a. Kiến trúc
K I ẾN TR Ú C
Tại Thăng
CUNG ĐÌNH
Lo n g , n h à M ạ c t i ế p
quản gần như toàn bộ các công
t r ì n h c u n g đ i ệ n c ủ a n h à Lê S ơ đ ể
lại, không xây dựng thêm và cũng
ít tu bổ. Các vua nhà Mạc xây
dựng nhiều cung điện ở Dương
Kinh (thuộc Hải Phòng ngày nay).
Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian
Hình ảnh Chùa Trăm gian
(Hà Nội)
Hình ảnh Đình Tây Đằng (Hà
Nội)
Trong tổng số 195 công trình thời Mạc còn lại đến thời nay, có 142
công trình kiến trúc là chùa, chủ yếu là tôn tạo. Tiêu biểu có chùa
Bà Tấm (Hà Nội), chùa Cập Nhất ở Thanh Hà (Hải Dương), chùa Bối
Khê ở Thanh Oai (Hà Nội),..
Dưới thời Mạc, đình làng trở nên phổ biến. Đình làng là nơi sinh hoạt
chung của cộng đồng làng xã. Hai ngôi đền nổi tiếng nhất là đình Lỗ
Hạnh (Bắc Giang) xây dựng năm 1576 và đình Tây Bằng (Hà Nội) xây
dựng năm 1583.
Với chính sách tôn giáo và tín ngưỡng khá cởi mở của triều đình, các
đạo quán có điều kiện sửa sang, tu bổ. Ba đạo quán có dấu tích từ thời
Mạc còn đến nay là quán Hưng Thánh, quán Hội Linh và quán Linh
Tiên (Hà Nội). Ngoài ra còn có một số công trình đạo quán khác được
trùng tu thời kì này như quán Thụy Ứng, quán Đế Thích,...
b. Điêu khắc
• Nghệ thuật điêu khắc thời Mạc thể
h i ệ n rõ n é t q u a v i ệ c t ạ c t ư ợ n g ( t i ê u
biểu là tượng Phật), hình tượng
rồng..Hoạt động tạc tượng thời Mạc
khá phát triển với chất liệu và loại
hình khá phong phú, tiêu biểu là các
ư ợ n g đ ư ợ c t ạc b ằ n g g ỗ m í t v à g ỗ
• tCác
chủ đề phổ biến của điêu khắc là cảnh
v à n g t â m.
sinh hoạt của nhân dân, khắc hình thiên
nhiên như thú vật, hoa lá, sông nước, mây
và
hình
tượng
rồng,
phượng.
• trời
Nghệ thuật thời Mạc chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của nghệ thuật thời Lý, Trần và một số
đặc điểm kế thừa thời Lê Sơ. Phong cách
chung là thể hiện xu hướng tả thực, gần gũi
với cuộc sống đời thường.
Tượng Quan âm nghìn mắt
nghìn tay tại chùa Đa Tốn
(Gia Lâm, Hà Nội) được tạc ở
tư thế ngồi xếp bằng; cao
1,32m; tính cả bệ cao 2,55m.
Những cánh tay tạo thành
vòng sáng rộng 1,55m. Tượng
ngồi trong thế "tham thiền
nhập định" nhưng lại toát ra
cái "động" của nội tâm qua
những cánh tay chính hướng
ra xung quanh với nhiều động
tác khác nhau.
Nghệ thuật thờii Lê Trung
Hưng
a. Kiến trúc:
* Kiến trúc cung đình:
• Sau khi giành lại kinh thành Thăng long từ nhà
Mạc(1592), các chứ Trịnh bắt đầu cho xây dựng
vương phủ ở phía Nam hồ Tả Vọng. Cùng với hệ
thống cung điện của vua Lê, phủ chúa Trịnh dần trở
thành một quần thể kiến trúc đồ sộ gồm 52 cung,
phủ, điện, đài, vườn ngự uyển,...
• Các chúa Trịnh còn cho xây dựng nhiều cung điện ở
bên ngoài phủ. Quanh phủ Chúa là tường thành bao
bọc và cổng thành kiên cố. Phía trên các cổng
thành đều có vọng gác, lợp mái cho quân lính đứng
canh gác
• Ở Đàng Trong, chính quyền chúa Nguyễn cũng từng
bước cho xây dưng kinh thành ở Phú Xuân . Trong
*Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian:
• Kiến trúc tôn giáo có bước phát triển mạnh với
sự hồi của Phật giáo. Ở Đàng Ngoài, nhiều chùa
tháp được xây dựng hoặc trùng tu, mở rộng hơn
trước như: chùa Keo(Thái Bình); chùa Bút
Tháp( Bắc Ninh);...
• Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn rất sùng đạo
Phật đã ủng hộ và xây dựng nhiều ngôi chùa mới
như chùa: Thiên Mụ; Từ Đàm; Báo Quốc;...
• Kiến trúc chùa mới và chùa được trùng tu có kiểu
dáng đa dạng . Địa điểm xây dựng thường là
những nơi yên tĩnh, phong cảnh đẹp gần núi,
sông.
• Có nhiều loại hình tiêu biểu là đình làng tiêu
biểu như: Đình Bảng ( Bắc Ninh) ; Chu Quyến(Hà
b. Điêu khắc :
• Điêu khắc cung đình gắn với quá trình xây
dựng và điêu khắc cung vua, phủ chúa, xây
dựng lăng mộ ,... Năm 1644, chúa Trịnh
Doanh cho xây lầu Ngũ Long . Khi các vua
chúa qua đời, chính quyền Đàng Trong,
Đàng Ngoài đều quan tâm đến việc xây
dựng lăng mộ, dựng bia đá, khắc tượng rùa
đá,... Tuy nhiên hình tượng rông trong thời
kỳ này mờ nhạt, ít được sử dụng.
• Điêu khắc dân gian phát triển đa dạng hơn
so với điêu khắc cung đình. Phổ biến nhất
vẫn là những bức chạm khắc trên gỗ , cột
đá ở các đình làng, tạc tượng,... như :
tượng Phật bà Quan âm nghìn mắt nghìn
tay( Bắc Ninh), tượng La Hán ở chùa Tây
c.Mĩ thuật:
Mĩ thuật thời Lê Trung Hưng phát triển rực rỡ với nhiều thể
loại.
• Tranh lụa thời Lê Trung Hưng có nhiều chủ đề như
phong cảnh tranh trang trí đồ vật hoặc vẽ chân dung.
• Tranh dân gian xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII , phát
triển mạnh trong thời kỳ tù thế kỷ XVIII- XIX với bốn
dòng chính là tranh Đông Hồ , Hàng Trống , Kim Hoàn
phục vụ người dân vào các dịp Tết hay còn được gọi là
tranh Tết
Mĩ thuật ở Đàng Trong nổi bật với
nghệ thuật trang trí tạo hoa văn nổi
bằng việc đắp vữa gắn sành , sứ ở
các ngôi chùa, phối hợp nhiều màu
d. Điểm mới:
• Sự mở rộng của kiến trúc cung đình
• Kiến trúc tôn giáo và dân gian phát
triển rực rỡ, độc đáo , sáng tạo
• Mĩ thuật xuất hiện yếu tố mới và trở
nên đa dạng
• Nghệ thuật có sự kế thừa và giao thoa
mạnh mẽ
Nghệ thuật thời Lê Sơ
1. Kiến
• trúc
Kiến trúc cung đình
Kinh thành Thăng Long và hệ thống cung điện
được trùng tu, xây mới trên quy mô lớn. Khu
Văn Miếu, nhà Thái học và công đường của
triều đình cũng được mở rộng
• Kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian:
Việc xây chùa mới bị hạn chế thay vào đó là nhiều
chùa được trùng tu (chùa Kim Liên, chùa Đại Bi..)
Lăng mộ thời Lê Sơ là công trình nghệ thuật đặc
sắc. Điển hình là lăng mộ vua Lê Thái Tổ
2. Điêu khắc
• Điêu khắc thời Lê Sơ phát triển thể hiện qua hình tượng
rồng, tượng quan hầu, bia tiến sĩ ở Văn Miêu-Quốc Tử Giám.
Những đường nét mềm mại, cân đối của hình tượng rồng
thời Lý, Trần được thay bằng những đường nét sắc nhọn,
mạnh mẽ
• Chạm khắc gỗ ở các đình làng miêu tả cảnh sinh hoạt của
nhân dân, các dòng tranh khắc gỗ như Đông Hồ, Hàng Trống
ra đời vào thời kì này tạo ra bức tranh dân gian đặc sắc, trờ
thành tài sản quý báu trong kho tàng nghệ thuật
• Nghệ thuật Lê Sơ kế thừa những tinh hoa của nghệ thuật Lý,
Trần đòng thời có những bước tiến mới về cả nội dung và
hình thức thể hiện
2.Nghệ thuật thời Nguyễn
a) Kiến trúc
• Kiến trúc cung đình
Kinh thành Huế được xây dựng trong 30 năm (1803 – 1832), có chu vi 10
km, có
diện tích là 520 ha, tạo thành một quần thể kiến trúc độc đáo và đa dạng.
Kinh thành Huế gồm ba lớp thành: Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm
thành. Hoàng thành và Tử cấm thành thường được gọi là Đại Nội.
*Ngọ Môn là cổng ra vào của
Đại Nội Kinh thành Huế, nhìn
ra sông Hương. Cổng Ngọ Môn
có 5 cửa: cửa giữa dành cho
nhà vua, hai cửa ở hai bên
dành cho quan văn và quan
võ, hai cửa còn lại dành cho
binh lính đi theo.
Hình 32.Ngọ Môn-cử chính phía Nam
của
Hoàng thành Huế
-Trung tâm của Kinh thành Huế là khu Đại Nội với gần 140 công trình lớn
nhỏ.Mỗi công trình có chức năng riêng biệt, được xây dựng và trang trí rất
độc đáo,tiêu biểu là Ngọ Môn, điện Thái Hoà, sân Đại Triều, cung Diên Thọ,
Thái Miếu,Thế Miếu, Triệu Miếu,... Ở ngoại ô Kinh thành Huế còn có lăng
tẩm của các vua Nguyễn, mỗi lăng tẩm là một công trình nghệ thuật với
phong cách riêng.Ngoài Kinh thành Huế, nhà Nguyễn còn cho xây dựng
nhiều thành trì quân sự vững chắc ở Hà Nội, Cao Bằng, Sơn Tây, Quảng Trị,
Bình Định, Vĩnh Long, Gia Định,...
Thành Cửa Bắc (Hà Nội) hoàn
thành xây dựng năm 1805 trên
nền Cửa Bắc thời Lê trung hưng.
Thành được xây bằng gạch, đá
theo kiến trúc vọng lâu (phía trên
là lầu, phía dưới là thành). Trên
thành có vọng gác của quân lính.
Tưởng thành vẫn còn dấu vết đạn
pháo do quân Pháp bắn trong lần
đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ
hai(1882). Đây là một trong số ít
di tích lịch sử còn sót lại của thành
-Nhà Nguyễn đề cao Nho giáo, không còn tôn sùng Phật giáo như thời
các chúa Nguyễn.Có giai đoạn vua Gia Long và vua Tự Đức cấm nhân
dân không được xây dựng chùa mới.
-Tuy vậy, chùa, tháp vẫn được trùng tu hoặc xây dựng mới ở nhiều nơi,
tiêu biểu là chùa Dâu, chùa Phật Tích (Bắc Ninh); chùa Keo (Thái
Bình),... Việc xây dựng mới hoặc tu sửa đình làng tiếp tục được duy trì.
Ở Nam Bộ, việc xây dựng đình làng trở nên phổ biến hơn. Những đình
làng tiêu biểu xuất hiện ở thời Nguyễn là đình thần Hưng Long (Bình
Phước); đình Mỹ Đức (Kiên Giang); đình Thới An, đình Thạnh Hoà,...
Nhìn chung, kiến trúc thời Nguyễn có sự kế thừa truyền thống của các
thời kì trước đó, đồng thời tiếp thu những nét đặc sắc kiến trúc của
Trung Hoa và vận dụng hiệu quả kiểu kiến trúc xây thành quân sự
phòng ngự Vau-ban của Pháp.
b,Điêu khắc
-Khảm sành sứ đã tạo nên nét đặc
sắc của điêu khắc cung đình Huế,
tiêu biểu nhất là lăng Khải Định.
Ngoài yếu tố mới lạ và độcđảo đến từ
sự giao thoa văn hoá, kiến trúc Đông
– Tây, giá trị lớn nhất đưa lăng Khải
Định đạt đến tầm kiệt tác nghệ thuật
chính là nghệ thuật khảm sành sứ
trong nội điện. Các nghệ nhân xứ
Huế đã dùng hàng vạn mầu sành,
sứ,thuỷ tinh với đủ màu sắc để đắp
nổi thànhhàng nghìn bức tranh, phù
điêu, hình chim,hoa, muông thú,…
b,Điêu khắc
-Nét đặc sắc về nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn còn thể hiện ở
việc chạm khắc trên bia đá, tạc tượng (người hoặc con vật), chạm trổ
trên gỗ, tạo hoa văn trang trí trên đồng,... Trong đó, hình tượng “tứ
linh” (long, ly, quy, phượng) là phổ biến hơn cả. Hình tượng rỗng và
phượng có mặt ở mọi công trình kiến trúc trong Kinh thành Huế, các
lăng tẩm và được thể hiện trên nhiều chất liệu khác nhau như vàng,
sành, sứ, gỗ, đá,...
-Nghệ thuật điêu khắc tại các ngôi chùa và đình làng thời Nguyễn về
cơ bản vẫn tiếp nối phong cách thời Lê trung hưng, gồm có chạm trổ
trên gỗ, đá hoặc đúc chuông, đúc tượng Phật,... Ở phía nam, nhiều
ngôi chùa, đình tại các làng xã hoặc nhà ở và lăng mộ của một số
b,Điêu khắc
Cuối năm 1835, vua Minh Mạng cho
khởi công đúc Cửu Đỉnh và hoàn thành
một năm sau đỏ. Cửu Đỉnh được đặt
trước sân Thể Tổ Miếu và ở nguyên vị
trí từ đó đến nay. Cả 9 chiếc đỉnh đều
có kiểu dáng chung, giống nhau (bầu
tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có
hai quai, dưới bầu có ba chân,...). Năm
2012, Cửu Đỉnh được công nhận là Bảo
vật Quốc gia.
c,Mĩ thuật
-Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Kinh thành Huế, việc
trang trí nội thất cung đình được các vua triều Nguyễn rất chú
-Mĩ
thuật dân gian tiếp tục phát triển với nhiều loại hình, sử dụng
trọng.
nhiều
chất liệu khác nhau.Mỗi dòng tranh dân gian có nghệ thuật tạo
màu sắc và cách in ấn khác nhau, nhưng đều gắn với chủ đề lịch
sử như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung,... hoặc phản
ánh cuộc sống thường ngày như đánh vật, chăn trâu thổi sáo,
phong cảnh làng quê,...
c,Mĩ thuật
Tranh làng Sình ra đời vào
khoảng thế kỉ XVI ở thôn Lại Ân,
xã Phú Mậu, thành phố Huế.
Đây là dòng tranh vẽ ra không
chỉ phục vụ thú chơi tranh tao
nhã mà còn đáp ứng nhu cầu tín
ngưỡng, được người dân Huế
dùng để thờ, hoá trong lễ cầu
an, giải hạn,...Tranh làng Sình
làm nên nét riêng biệt và đặc
sắc cho vùng đất miền Trung.
d,Âm nhạc
*Âm nhạc cung đình:
-Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, nhạc cung đình xuất hiện từ rất sớm,
được ưu giữ và phát triển qua nhiều triều đại, nhưng đặc sắc và có quy
mô nhất là ở thời Nguyễn. Năm 1808, vua Gia Long đổi tên dàn nhạc
cung đình là “Việt Nam quốc nhạc”.
* Âm nhạc dân gian
-Âm nhạc dân gian phát triển trên khắp các tỉnh thành trong cả nước,
phong phú về loại hình, đồng thời mang đặc trưng vùng, miền như nghệ
thuật sân khấu cải lương,tuồng, hát chèo, hát quan họ, hát trống cơm,
hát ví, giặm, hát xẩm,...
e,Những điểm mới về nghệ thật thời
Nguyễn
-Kiến trúc thời Nguyễn, đặc biệt là kiến trúc cung đình Huế có quy mô
lớn, kiên cố nhất trong các triều đại quân chủ Việt Nam. Trải qua hàng
thế kỉ chịu sự tác động của
thời tiết khắc nghiệt, nhiều công trình kiến trúc của Kinh thành Huế và
thành quân sự
ở các địa phương vẫn đứng vững, được lưu giữ gần như nguyên vẹn.
-Nghệ
thuật
thời Nguyễn
có sựmột
kếtsố
hợp
văn
hoá
Đông
– Tây,
đặc
-Dưới thời
Nguyễn,
xuất hiện
loại
hình
nghệ
thuật
mới
vàbiệt
đặclà
văn
sắc, hoá
độc Việt –Pháp. Các công trình kiến trúc (Kinh thành Huế, lăng
tẩm,
thành
quân
sự ở thuật
các địa
phương)
kết
hợpcung
văn hoá
đáo, đặc
biệt
là nghệ
khảm
sành,đều
sứ có
và sự
Nhã
nhạc
đìnhĐông
–Huế.
Tây, vừa phát huy được những thành tựu của các thời kì trước, vừa
vận dụng được hiệu quả của kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc thành
quân sự phỏng ngự Vau-ban của Pháp,...
e,Những điểm mới về nghệ thật thời
Nguyễn
-Cuối năm 1835, vua Minh Mạng
cho khởi công đúc Cửu Đỉnh và
hoàn thành một năm sau đỏ. Cửu
Đỉnh được đặt trước sân Thể Tổ
Miếu và ở nguyên vị trí từ đó đến
nay. Cả 9 chiếc đỉnh đều có kiểu
dáng chung, giống nhau (bầu tròn,
cổ thắt, miệng loe, trên miệng có
hai quai, dưới bầu có ba chân,...).
Năm 2012, Cửu Đỉnh được công
nhận là Bảo vật Quốc gia.
THANK
YOU
B Y O L I V IA W IL S O N